Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức cả trong nước và quốc tế. Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt đó, việc tổ chức Tổng tuyển cử không chỉ là một yêu cầu cấp thiết nhằm củng cố chính quyền cách mạng non trẻ mà còn là bước đi chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với việc xác lập nền tảng chính trị-pháp lý của Nhà nước Việt Nam mới. Chính từ yêu cầu khách quan ấy, cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 đã phát huy vai trò và ý nghĩa to lớn của mình.Ngày 05/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bằng chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, toàn thể Nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 06/01/1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.Việc tổ chức Tổng tuyển cử, các ban bầu cử đã được thành lập tới tận làng xã do Uỷ ban nhân dân các cấp trực tiếp đảm nhiệm. Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện cho mình, hạn chế những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức.Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành sôi nổi trên khắp cả nước. Các tỉnh phía Bắc diễn ra an toàn, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại của kẻ thù. Các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn rất ác liệt của giặc Pháp lúc bấy giờ.
Tổng số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89%. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% số đại biểu không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Trong thành phần của Quốc hội có đại biểu đại diện cho cả ba miền Bắc - Trung - Nam, các giới từ những nhà cách mạng lão thành, thương gia, nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại biểu các thành phần tôn giáo, những người không đảng phái và các đảng phái chính trị.Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng ta đúng đắn, sáng tạo, sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ; thể hiện khát vọng được độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam.Thành công của cuộc Tổng tuyển cử cũng phản ánh sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cuộc bầu cử đã thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, từ nông dân, công nhân đến trí thức, thể hiện tinh thần đoàn kết và quyết tâm xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử đã tạo dựng nền tảng pháp lý vững chắc cho chính quyền dân chủ nhân dân. Quốc hội khóa I được bầu ra một cách hợp pháp đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng, góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước và định hướng phát triển đất nước trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám.Không dừng lại ở ý nghĩa trước mắt, cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 đã thiết lập mô hình và quy trình bầu cử, tạo ra tiền đề cho các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân sau này. Các quy định và kinh nghiệm từ cuộc bầu cử này đã được vận dụng và phát triển phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, từ đó giúp Nhà nước hoàn thiện pháp luật về bầu cử, từ việc quy định về điều kiện ứng cử, quyền bầu cử đến cách thức tổ chức và giám sát bầu cử...
Có thể khẳng định, cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 đã tạo ra mô hình dân chủ đầu tiên của Việt Nam, định hình phương hướng cho các cuộc bầu cử và cho sự phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa sau này. Đây không chỉ là một sự kiện chính trị mang tính lịch sử mà còn chứa đựng những giá trị bền vững về tinh thần dân tộc, dân chủ, độc lập và phát triển, để lại những ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc đối với hệ thống chính trị và đời sống chính trị của đất nước.